Phòng vệ ven biển: Cần tư tưởng mới

08 March 2013 | Article
0 CommentsWrite a comment

Nỗi lo ngại hiện tại về thích ứng với biến đổi khí hậu là rủi ro lớn về việc thích ứng sai: là những giải pháp đắt tiền cho các vấn đề có thể không bao giờ xảy ra hoặc những giải pháplại làm phát sinh ra những vấn đề khác (luật nổi tiếng về hậu quả không lường trước). Một ví dụ rất rõ ở Việt Nam là vào năm 2009, Thủ tướng đã phê duyệt dự án xây dựng đê biển bằng bê tông (thay thế những đê đất hiện có) với chi phí 3 triệu USD cho mỗi km đê dọc bờ biển. Dự án này một phần xuất phát từ kết quả nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới chỉ ra rằng hầu hết đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập khi mực nước biển dâng lên 1m dự đoán vào khoảng thời gian giữa năm 2050 đến 2100. Nghiên cứu khác của một học giả từ Đại học Cần Thơ về chi phí và lợi ích đã kết luận rằng đê biển bê tông bao quanh đồng bằng sông Cửu Long là một giải pháp tốt (http://www.eepsea.net/index.php?option=com_k2&view=item&id=434:adaptation-to-sea-level-rise-in-the-vietnamese-mekong-river-delta-should-a-sea-dike-be-built?&Itemid=192).Tuy nhiên, những giả thuyết sử dụng trong bài nghiên cứu có tính chọn lọc. Ví dụ, bài nghiên cứu giả định rằng gạo và tôm nước ngọt mang lại giá trị cao nhất trong sử dụng đất ở khu vực ven biển, bỏ qua những lợi ích của nuôi trồng thủy sản nước mặn và nhu cầu thị trường thay đổi theo thời gian.

Trong khi đó, ở châu Âu và Mỹ đã thay đổi tư duy từ việc phụ thuộc vào các giải pháp công trình “cứng” sang phòng hộ ven biển. Chính quyền bang Maryland đã bắt đầu mua lại một số khu vực xung quanh vịnh Chesapeake nhằm tạo các dải đất tạo điều kiện cho các vùng đất ngập nước ven biển di chuyển về phía đất liền khi mực nước biển dâng lên. Người dân có thể tiếp tục ở lại nhà của mình nếu muốn nhưng chính quyền sẽ không cứu trợ trong trường hợp lũ lụt hay sạt lở. Các công ty bảo hiểm cũng thu hồi các gói bảo hiểm. Tại lưu vực sông Mississippi, chính quyền Louisiana không tiếp tục cung cấp điện, nước, trường học và các dịch vụ công cộng khác phía nam khu I-10, đường cao tốc Đông-Tây xuyên qua New Orleans. Khi tập đoàn kỹ thuật quân sự, những nhà tiên phong ủng hộ giải pháp bê tông trong quản lý nguồn nước trình bày ngân sách về việc xây dựng hệ thống phòng hộ ven biên sau cơn bão Katrina, chính quyền đã tự chối vì không thể kham nổi kinh phí bảo trì 100 triệu USD mỗi năm.

Thông thường các chính phủ trên toàn thế giới đều ủng hộ xây đê và các giải pháp công trình quản lý nước quy mô lớn. Những giải pháp có thể nhìn thấy được và đem lại nhiều phiếu ủng hộ (ít nhất là ngắn hạn), cũng như nhiều cơ hội nâng đỡ và bảo trợ tốt. Ở đồng bằng sông Cửu Long, dự án WISDOM do CHLB Đức tài trợ đã tổng hợp các tài liệu về hợp tác đôi bên cùng có lợi giữa phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện và các công ty xây dựng đê (http://www.water-alternatives.org/index.php?option=com_content&task=view&id=77&Itemid=1). Tuy nhiên, ngay cả khi các chi phí của những dự án này được công khai, nhiều câu hỏi nghi vấn vẫn được đặt ra. Ngay cả các phương tiện truyền thông chính thức bày tỏ sự nghi ngờ về giá trị của dự án "siêu đê biển" trị giá 2,4 tỷ USD (có thể là cao hơn nhiều nữa) nối liền Vũng Tàu và Tiền Giang, và các tuyến đê cao đã được xây dựng trước đây nhằm tăng cường sản xuất gạo (http://vietnamnews.vn/Environment/235790/big-dykes-inflict-major-environmental-damage.html). Đánh giá từ công chúng là rất quan trọng đặc biệt đối với một nước mà việc đánh giá tác động môi trường chỉ đơn giản là bài tập “đánh dấu vào ô” mà không có liên hệ thực tế.

Chính quyền tại các tỉnh dọc theo 3.000-km bờ biển Việt Nam cảm thấy mình t rơi vào tình huống khá khó khăn. Một mặt, họ bị chỉ trích về những thiệt hại về người do bão gây ra. Mặt khác, di dời người dân khỏi vùng bờ biển ảnh hưởng thì quá tốn kém và thường xuyên bị chống cự mạnh mẽ. Điều cuối cùng một cán bộ tỉnh muốn quan tâm giải quyết là môt “sự kiện xã hội”.”. Các địa phương còn chịu sức ép từ Hà Nôi (Trung ương) rằng phải đảm bảo diện tích trồng lúa, trong khi thực tế tình trạng xâm nhập mặn ngày càng nhiều hơn. Vậy đâu là giải pháp phòng hộ ven biển mà đảm bảo hiệu quả kinh tế, môi trường và chính trị?

Điểm đầu tiên cần đề cập là mực nước biển đang tăng nhưng rất chậm: khoảng 3,5mm mỗi năm. Đây không phải là một cuộc khủng hoảng đòi hỏi một ngay một phương án khẩn cấp với nhiều hậu quả tiêu cực lớn tiềm ẩn. Chính phủ có đủ thời gian để xem xét thấu đáo về chi phí và lợi ích của nhiều giải pháp khác nhau cũng như tận dụng kinh nghiệm từ quốc tế. Thứ hai, chính phủ cần chuyển đổi suy nghĩ "phòng vệ bằng mọi giá" sang cách tiếp cận bảo vệ ven biển. Sức mạnh của tự nhiên là rất lớn và không ngừng nghỉ. Các giải pháp thích ứng hiệu quả mà không đi lại quy luật tự nhiên là lựa chọn thực tế duy nhất màcác quốc gia giàu hơn Việt Nam đến giờ đã nhận ra. Thứ ba, chính phủ cần phải nhìn nhận giá trị của rừng ngập mặn không chỉ về chức năng bảo vệ chống bão mà còn về nhiều các dịch vụ khác mà rừng ngập mặn mang lại, đặc biệt là trong việc nuôi dưỡng các sinh vật biển. Việc chỉ tập trung vào mục đích chống bão là lý do khiến các khu trồng rừng ngập mặn thường chỉ là đơn loài và nghèo về sinh học. Các quy định quản lý cũng cần có sự thay đổi để cộng đồng có thêm cơ hội được khai thác bền vững tài nguyên rừng ngập mặn; vì hầu hết rừng ngập mặn hiện đang được chỉ định bảo vệ nghiêm ngặt. Cuối cùng, chính phủ cần phải thay đổi tư duy từ một đường phòng hộ sang một vùng phòng hộ. Cách tiếp cận như vậy sẽ như thế nào?

Hầu hết đồng bằng sông Cửu Long được bao quanh bởi hệ thống đê đất. Đê thường cao 2-3m và bị xói mòn rất nhanh ở nhữngnơi rừng ngập mặn bị mất. Khi mực nước biển dâng lên, việc duy trì đê cũng trở nên ngày càng khó khăn. Vỡ đê và ngập mặn sẽ xảy ra thường xuyên hơn. Cuối cùng, các đê sẽ sụp đổ hoàn toàn. Phía trong đê là các ao nuôi tôm thâm canh và trang trại tôm-lúa rộng lớn, không có cây xanh che phủ. Chyển đổi khu vực này thành khu nuôi trồng thủy sản dựa vào rừng ngập mặn là một giải pháp ứng phó với nước biển dâng. Một số nơi hiện đang có xu hướng giảm dần nuôi tôm thâm canh do rủi ro về bệnh dịch và mất mùa.

Nuôi tích hợp dựa trên rừng ngập mặn có một số ưu điểm. Đầu tiên, nuôi truồng dựa vào dòng nước chảy tự nhiên hơn, giúp giảm khả năng nhiễm các bệnh phát sinh từ nước. Thứ hai, tôm nuôi trong điều kiện tự nhiên thường lớn hơn và bán được giá cao hơn. Ngoài ra còn có cơ hội được cấp chứng nhận tôm hữu cơ. Loại tôm này có giá thành cao hơn 10% trên thị trường quốc tế. Thứ ba, nuôi kết hợp tôm, cua và cá sẽ mang lại đa dạng về sinh kế hơn. Trong các trang trại nuôi tôm - rừng ngập mặn kết hợp ở Cà Mau, thu nhập ròng từ cua và cá gần tương đương thu nhập từ tôm trên mỗi ha. Cuối cùng, do có chức năng bảo vệ chống bão, nên khi thực hiện mô hình nuôi trồng kết hợp rừng ngập mặn, sẽ không cần phải di dời dân vào sâu trong đất liền . Ngược lại, hệ thống đê bê tông sẽ ngăn rừng ngập mặn tiến vào đất liền khi mực nước biển dâng và khi đai rừng ngập mặn mất đi sau đó sẽ khiến đê càng phải hứng chịu lực sóng mạnh. Và nếu (hoặc khi) đê vỡ, như đã xảy ra ở New Orleans vào năm 2005, người dân sống ở khu vực lân cận sẽ phải chịu hậu quả tàn phá kinh khủng.

Khoảng cách giữa đê và biển thay đổi đáng kể. Tại tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, và Kiên Giang, khoảng cách là khoảng 50m; một phần Bến Tre và Trà Vinh lên đến 2km, do địa hình cao hơn một chút. Người dân không được phép sở hữu đất đai bên ngoài đê, tất cả thuộc quyền sở hữu nhà nước. Tuy nhiên, hàng chục ngàn người, nhiều người trong số họ vốnsống ở đó đã nhiều năm. Di dời họ ra chỗ khác không phải là một giải pháp. Thay vào đó, chính quyển có thể cho các hộ gia đình thuê đất dài hạn và khuyến khích họ đầu tư vào nuôi thủy sản kết hợp rừng ngập mặn để vừa có thể chống bão vừatích tụ bùn cát trầm tích tương ứng với mực nước biển dâng.

Quá trình chuyển đổi sử dụng đất hiện nay sang mô hình nuôi trồng thủy sản dựa vào rừng ngập mặn hoàn thiện sẽ mất 20 năm. Chính phủ cần xem xét và áp dụng khung thời gian này. Tuy nhiên, cách tiếp cận thích ứng dài hơi này lại là thách thức đối với các giải pháp mà chính phủ vốn yêu thích (chẳng hạn như đê bê tông) vì có thể tiến hành một cách nhanh chóng với sự quan tâm tích cực của công chúng, nhưng trong nhiều trường hợp, chi phí thực tế thường sẽ cao hơn rất nhiều so với dự kiến ban đầu. Trong cách tiếp cận mới, cần tư duy xem xét về tốc độ nước biển dâng chậm, rủi ro của giải pháp thích ứng sai (malapdation), và thực tế rằng nhu cầu về các sản phẩm nông nghiệp luôn thay đổi theo thời gian.

Không phải tất cả các tác động của nước biển dâng chỉ có thể giải quyết được bằng giải pháp thích ứng dựa vào môi trường; trong một vài trường hợp, di dời hoàn toàn và phòng thủ bằng đê bê tông là cần thiết. Tuy nhiên ở đồng bằng sông Cửu Long, việc nuôi kết hợp rừng ngập mặn mang lại nhiều sản phẩm đa dạng có giá trị cao, có khả năng làm tăng sức chống chịu của cộng đồng và nền kinh tế đồng thời giúp chính phủ tiết kiệm nhiều chi phí lớn trong quá trình ứng phó với các tác động do biến đổi khí hậu.

Jake Brunner - Điều phối viên Mêkong (Viet Nam, Campuchia, và Myanmar)
 


Comments

0 Comments
Write a comment

600 CHARACTERS LEFT

captcha