Những bất cập trong thi pháp luật môi trường và bảo đảm quyền môi trường cho người được trợ giúp pháp lý

30 December 2012 | Article
0 ComentariosEscribir comentario

Quyền được Trợ giúp pháp lý và quyền môi trường: Nghị định số 07/ CP của Chính phủ ngày 12/1/2007 hướng dẫn thi hành Luật trợ giúp pháp lý 2006, tại Điều 34 đã quy định người nghèo, đối tượng chính sách và nhóm yếu thế khác được trợ giúp pháp lý về 08 lĩnh vực pháp luật trong đó có vấn đề môi trường.

Đối tượng được yêu cầu trợ giúp pháp lý miễn phí thông qua tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền lợi nếu vụ việc phải đưa ra Tòa án, hoặc đại diện trước cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, được hỗ trợ đơn từ khiếu nại, hòa giải,... Tất cả các hoạt động này đều do Trợ giúp viên, hoặc luật sư, hoặc cộng tác viên TGPL thực hiện miễn phí và theo dõi chất lượng, kết quả vụ việc.

Việc trợ giúp pháp lý cho người nghèo, nhóm yếu thế là để giúp họ bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp khi bị xâm hại, nâng cao nhận thức pháp luật cho họ để không bị thua thiệt khi làm ăn, sản xuất kinh doanh, vì vậy, trợ giúp pháp lý có vai trò thiết thực trong nâng cao dân trí và xóa đói, giảm nghèo cho người dân. Vì vấn đề nghèo đói và môi trường có mối quan hệ rất mật thiết. Nghèo đói làm cho các cộng đồng nghèo dễ bị tổn thương, sống phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên cố định của địa phương, làm gia tăng tốc độ khai thác tài nguyên theo hướng quá mức hay huỷ diệt. Nghèo đói dẫn đến thiếu vốn đầu tư cho cải tạo môi trường, là mảnh đất lý tưởng cho mô hình phát triển chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế và góp phần bùng nổ dân số.

Tuy nhiên kết quả trợ giúp pháp lý cho thấy các vụ việc liên quan đến môi trường mà người dân đề nghị giúp đỡ pháp lý còn rất ít, hoặc không thành công, mặc dù ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí, tiếng ồn âm thanh,… còn diễn ra ở phạm vi rộng, cuộc sống của cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng, phát sinh nhiều bệnh hiểm nghèo, … nhưng người dân chưa biết về quyền môi trường và hoặc chưa biết quyền được giúp đỡ pháp lý miễn phí để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm ở lĩnh vực môi trường, hoặc biết nhưng chưa có cơ chế hỗ trợ khiếu kiện như giám định, xét nghiệm, thu thập chứng cứ,…

Môi trường là vấn đề quá rộng lớn, có đến trên 300 Điều ước quốc tế về môi trường, hàng ngàn văn bản mang tính tuyên bố hay Nghị quyết chung của các tổ chức quốc tế. Việt Nam đã tham gia gần 20 Điều ước quốc tế quan trọng về môi trường, Hiến pháp 1992 khảng định: "Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và làm huỷ hoại môi trường". Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam 1993 (sửa đổi 2005) đã có một định nghĩa bao quát nhưng cũng rất trừu tượng: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên." (Ðiều 1). Như vậy, có thể hiểu quyền môi trường ở đây là môi trường sống của con người, con người có quyền sống trong môi trường tự nhiên và xã hội an toàn, an ninh và trong sạch. Môi trường còn là điều kiện và thước đo chất lượng cuộc sống, nhãn mác cho du lịch, nguồn lực cho phát triển xã hội nói chung. Luật xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước về bảo vệ môi trường trong phạm vi quốc gia, quy định những biện pháp phòng, chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, những quy định cấm,... có chế tài nghiêm khắc trong Bộ luật hình sự và biện pháp xử lý hành chính trong các Luật khác (Luật Khoáng sản, Luật Dầu khí, Luật Hàng hải, Luật Lao động, Luật Ðất đai, Luật Phát triển và Bảo vệ rừng, Luật Bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, Pháp lệnh về đê điều, Pháp lệnh về việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Pháp luật bảo vệ các công trình giao thông, Luật về quản lý và sử dụng nguồn nước, Luật quy hoạch đô thị 2009,...).

Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản về xử phạt vi phạm hành chính đối với vi phạm pháp luật (VPPL) về bảo vệ môi trường, đặc biệt Nghị định số 72/2010/ NĐ-CP ngày 8/7/2010 quy định về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và VPPL khác về môi trường, đã hình thành lực lượng cảnh sát về môi trường.
Pháp luật cũng quy định quyền và nghĩa vụ cá nhân, tổ chức, hộ gia đình có quyền khiếu nại và tố cáo về các vi phạm pháp luật; có quyền được bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ Luật dân sự,...

Như vậy, đang có một nghịch lý, khi pháp luật đầy đủ, có lực lượng chức năng nhưng vi phạm pháp luật vẫn xảy ra nhiều và ở diện rộng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tài sản, công ăn, việc làm của người dân, nhưng lại chưa có vụ việc về hình sự và không có các vụ kiện ra Tòa về dân sự thành công! Đang có bất cập trong thực thi pháp luật, có độ vênh và khoảng cách lớn giữa pháp luật thực định và thi hành pháp luật, vì một số lý do chính như sau:

Thứ nhất, do nhận thức của người dân nói chung về pháp luật môi trường còn rất đơn giản và chưa đúng, vì pháp luật môi trường còn quy định quá học thuật, rất phức tạp và khó hiểu. Trong khi đó, người dân vừa là tác nhân gây ô nhiễm, vừa là nạn nhân sống trong ô nhiễm, thậm chí còn chưa nhận thức được rõ ràng về vấn đề này và hậu quả của nó. Thứ hai, từ góc độ cộng đồng, nhiều tổ chức và doanh nghiệp trong họa động sản xuất, kinh doanh, khai thác, chế biến,… cũng vẫn chủ yếu quan tâm về lợi nhuận mà chưa quan tâm đến môi trường và lợi ích lâu dài của môi trường đối với cộng đồng, xã hội và thế hệ con cháu trong tương lai. Thứ ba, từ góc độ quản lý của Nhà nước thì công tác bảo vệ môi trường mặc dù luôn được nêu ra nhưng vẫn còn ở hàng thứ yếu khi xử lý đối kháng lợi ích, vẫn tập trung ưu tiên phát triển kinh tế. Thứ tư, nhận thức của cán bộ và trách nhiệm xử lý các vi phạm pháp luật về môi trường còn rất hạn chế, quy trình, thủ tục còn tồn tại quá nhiều các bất cập, việc giám sát, phát hiện chưa đi liền với xử lý, mức phạt quá thấp, chỉ phạt tiền và yêu cầu khắc phục mà không yêu cầu khôi phục hiện trạng, phạt một lần rồi không giám sát tiếp nên trên thực tế có nhiều doanh nghiệp lẽ ra phải đầu tư trang thiết bị xử lý chất thải lại chấp nhận các hình thức xử lý vi phạm. Thứ năm, để người dân kiện được theo thủ tục hình sự hay dân sự đều khó khăn, vì hình sự thì cơ quan điều tra phải vào cuộc, dân sự thì người dân phải tự đưa ra chứng cứ, trong khi đó các quy định về trách nhiệm phát hiện, giám định, đền bù thiệt hại còn chưa rõ ràng và không khả thi. Trong khi đó, vi dụ; chứng cứ là các yếu tố ô nhiễm thì phải có giám định qua các máy móc chuyên dung,… đắt đỏ, mà người dân thì không thể theo đuổi, chưa chắc đã được xử lý mà lại mất thời gian, công sức, tốn kém, bỏ công ăn, việc làm,… Ngoài ra, nhu cầu phát triển kinh tế và giải quyết công ăn việc làm của người lao động đã có tác động đến việc xử lý, đóng cửa các doanh nghiệp vi phạm,… cấp phép đầu tư, kinh doanh ồ ạt, không quan tâm đến việc thẩm định, đánh giá ảnh hưởng lâu dài đối với môi trường.

Nhận thức rõ sự an lành của không khí, nguồn nước, đất,... cho hiện tại và tương lai phụ thuộc vào toàn dân, do đó, tổ chức trợ giúp pháp lý đã thực hiện nhiều hoạt động truyền thông như phát tờ gấp, nói chuyện pháp luật, sinh họat Câu lạc bộ, giải đáp pháp luật, hỗ trợ người dân trong thủ tục khiếu kiện. Bởi vì, chỉ đến khi ở mọi nơi, mọi lúc,… người dân phát hiện, kiến nghị, yêu cầu xử lý, đòi bồi thường, đòi khôi phục môi trường sống và được các cơ quan chức năng cùng vào cuộc xử lý cương quyết, nghiêm khắc và không khoan nhượng đối với các VPPL môi trường thì mới có thể ngăn chặn và giảm thiêu tác hại ô nhiễm.
Theo chúng tôi:

  1. Cần sửa đổi Bộ luật Hình sự về truy cứu trách nhiệm pháp nhân đối với người đứng đầu thì mới chặn đứng được vi phạm môi trường của doanh nghiệp.
  2. Sửa đổi Luật Môi trường để dễ hiểu, cụ thể hơn; xác định rõ cơ chế xã hội hóa, huy động rộng rãi các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân tham gia công tác BVMT.
  3. Có cơ chế ưu đãi và khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội, các địa phương phát hiện vi phạm; khuyến khích tự đề ra giải pháp xử lý ô nhiễm ở đơn vị, doanh nghiệp, địa phương mình.
  4. Mức xử phải thật nghiêm đối với những đối tượng mặc dù đã nhận thức đầy đủ về tác hại ô nhiễm môi trường nhưng vì lợi ích cá nhân, lợi ích doanh nghiệp vẫn cố tình vi phạm.
  5. Cần xem xét các trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các hình thức xử lý chưa phù hợp, thiếu nghiêm minh, đặc biệt khi xử lý đối với các doanh nghiệp đầu tư, tập đoàn kinh tế nhà nước, ..., giảm bớt khi cấp phép cho các dự án nhà máy chế tạo thép, xi măng, hóa chất,..
  6. Trách nhiệm pháp lý của người cấp phép đầu tư cho doanh nghiệp vi phạm về môi trường và Chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi để tồn tại VPPL về môi trường.
  7. Bổ sung quyền cho khu dân cư trong việc xem xét tác động MT, được thể hiện quan điểm đồng ý hay phản đối- và phản đối có hiệu lực khi cấp phép xây dựng, đầu tư.

Ts. Tạ Thị Minh Lý,  Nguyên Vụ trưởng Vụ trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp, Chủ tịch Hội trợ giúp pháp lý cho người nghèo.


Comentarios

0 Comentarios
Escribir comentario

600 CHARACTERS LEFT

captcha