Bảo tồn rừng ngập mặn tại đầm phá: kinh nghiệm của Sri Lanka

31 January 2012 | News story

Hầu hết rừng ngập mặn Việt Nam tập trung ở vùng ven biển của đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Ở miền Trung Việt Nam, rừng ngập mặn lại chủ yếu phát triển ở các cửa sông và đầm phá. Năm 2010, Sáng kiến “Rừng ngập mặn cho tương lai” (MFF) đã tài trợ hai dự án nhỏ cho Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cộng đồng (CCRD) và Đại học Nông Lâm Huế (HUAF) nhằm bảo tồn rừng ngập mặn thông qua việc tăng cường quản lý dựa vào cộng đồng ở hai đầm phá ở Thừa Thiên Huế và Quảng Nam.

Trong năm 2009, MFF đã đánh giá kết quả 5 năm thực hiện trồng và bảo tồn rừng ngập mặn tại các cửa sông và đầm phá của Sri Lanka. Một đặc điểm chung của các đầm phá ở Việt Nam và Sri Lanka là biên độ triều nhỏ, nghĩa là độ chênh giữa triều cường và triều ròng là rất nhỏ, thường dưới 1 mét. So với biên độ triều 3-4 mét ở đồng bằng Bắc Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

Biên độ triều nhỏ làm diện tích các bãi triều trong đầm phá là nơi phù hợp nhất cho rừng ngập mặn mọc tự nhiên cũng rất hạn chế. Tốc độ dòng chảy trong đầm phá thường là dưới 1m/s khiến lượng trầm tích được chuyển vào đầm phá không thể lưu thông ra biển. Việc bồi tụ bùn cát trong hầu hết các đầm phá tăng dần đến khi sự lưu thông giữa đầm phá với biển bị tắc nghẽn hoặc bị chặn lại do xây cầu hoặc tích tụ rác thải. Những rào cản này cũng ngăn không cho các loài cá và tôm bột di chuyển vào đầm phá trong mùa mưa, dẫn đến việc mất đi các loài bản địa và xuất hiện các loài ngoại lai.

Do một số cây ngập mặn, đặc biệt là đước có thể thu giữ vật liệu bồi lắng rất tốt nên trồng cây ngập mặn ở đầm phá của Sri Lanka thường làm tăng tụ và giảm diện tích nước trống. Trong một số trường hợp, nó làm suy giảm ngành thủy sản ở địa phương và dẫn đến hiện tượng xâm lấn vào đầm phá.

Năm 2011, MFF đã công bố các kết quả phân tích này trong một báo cáo có tên là Đánh giá Quản lý Rừng ngập mặn ở những cửa sông và đầm phá có biên độ triều nhỏ tại Sri Lanka (An Appraisal of Mangrove Management in Micro-tidal Estuaries and Lagoons in Sri Lanka). Sau trận sóng thần năm 2004 tại Ấn Độ Dương, vai trò của rừng ngập mặn đã được công nhận trong việc giảm thiệt hại về người và tài sản nên việc phục hôi rừng ngập mặn tại Sri Lanka đã nhận được nhiều tài trợ quốc tế. Báo cáo này kết luận là hầu hết các nỗ lực phục hồi này là “hoàn toàn không hợp lý, một hành động vô ích có thể gây ra những hậu quả tiêu cực”, và “cần thay đổi cách quản lý hệ sinh thái dựa trên niềm tin chủ quan sang quản lý dựa trên cơ sở khoa học”.
 

Mục đích của bài ghi chép này là để nhấn mạnh các khuyến nghị liên quan đến các dự án được MFF tài trợ ở Thừa-Thiên Huế và Quảng Nam. Bao gốm:

  1. Trồng rừng ngập mặn chỉ là giải pháp cuối cùng và chỉ nên thực hiện ở những khu vực đã từng có rừng ngập mặn. Các mục tiêu của dự án nên nhắm đến việc tăng cường sự kết nối giữa đầm phá với các vùng biển có thủy triều bằng cách phá bỏ các rào cản và cho phép dòng chảy lưu thông tự nhiên hơn. Điều này sẽ giúp cho rừng ngập mặn phục hồi dễ dàng, có khả năng tái sinh tự nhiên và tránh tích tụ trầm tích trong đầm phá làm mất sinh cảnh của các loài thủy sinh.
  2. Việc trồng lại chỉ nên xem xét thực hiện ở những rừng ngập mặn không thể tái sinh tự nhiên (ví dụ như ở những nơi không còn hạt giống). Ở Ấn Độ, MFF đã đưa ra đề xuất về một hệ thống trồng theo bờ kênh hình xương cá để khôi phục rừng ngập mặn ở những nơi có biên độ triều thấp.
  3. Nếu trồng rừng ngập mặn thì việc chăm sóc rừng trồng là hết sức quan trọng. Rất nhiều dự án trồng rừng ở Sri Lanka chỉ kéo dài sáu tháng. Trong khi đó,báo cáo khuyến nghị một khung thời gian kéo dài 10 năm. Điều này có nghĩa là, ở Sri Lanka, các tổ chức phi chính phủ hoặc các cơ quan thực hiện dự án chỉ nên tập trung vào một số ít các khu vực nhất định, tạo điều kiện để cán bộ của mình xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng địa phương và được tiếp cận được các thông tin kỹ thuật tốt nhất.
  4. Nên chú ý bảo vệ cả các hệ sinh thái không phải rừng ngập mặn. Những nghiên cứu mới đây ở Sri Lanka cho thấy, các thảm có biển, tuy chìm dưới biển và không dễ nhìn thấy có vai trò quan trọng hơn rừng ngập mặn trong việc tăng năng suất thủy sản.
  5. Nên chú trọng vào việc bảo tồn các khu vực rừng ngập mặn còn lại hơn là trồng mới. Tại Sri Lanka, cũng như ở Việt Nam, rừng ngập mặn đang tiếp tục bị chặt phá để phát triển đầm nuôi tôm, khu dân cư, du lịch và các mục đích khác. Ngăn chặn việc tiếp tục phá rừng ngập mặn cần phải được đặt lên ưu tiên hàng đầu.