Đập Xayabury là mở đầu những tác hại khó lường cho ĐBSCL

17 March 2011 | News story

Hai nước ở vùng hạ lưu sông Mêkông có kế hoạch xây dựng 12 đập thủy điện trên dòng chính Mêkông. Ngày 22-9-2010, Lào đã chính thức thông báo về dự án đập Xayabury, đập đầu tiên trong số 12 đập này. Thời báo Kinh tế Sài Gòn (BKTSG) đã có cuộc trao đổi với ThS. NGUYỄN HỮU THIỆN, thành viên của nhóm chuyên gia tư vấn thực hiện nghiên cứu “Đánh giá môi trường chiến lược 12 đập trên dòng chính sông Mêkông”, về vấn đề này.

Đập Xayabury có tác động như thế nào trong hệ thống 12 đập trên dòng Mêkông?

Báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược 12 đập trên dòng chính sông Mêkông nhấn mạnh rằng đối với vùng hạ lưu sông Mêkông, chỉ một đập thủy điện dòng chính cũng sẽ tạo ra những sự thay đổi vĩnh viễn và không phục hồi được đối với cả hệ thống.

Ngoài ra, hiện Lào đang có kế hoạch xây 10 đập thủy điện trên dòng chính Mêkông và Campuchia xây hai đập. Nếu đập Xayabury được thông qua lần này thì sẽ trở thành tiền lệ cho các đập khác.

Trong các đập thủy điện này, lợi ích thuộc về ai?

Theo tính toán của báo cáo này, Lào sẽ hưởng 70% lợi ích, Campuchia và Thái Lan mỗi nước khoảng 11-12%, và Việt Nam được 5% trong tổng lợi ích kinh tế của 12 đập này.

Nếu tất cả 12 đập này được xây, tổn thất đối với ĐBSCL sẽ ra sao?

Danh sách những tổn thất của ĐBSCL rất dài và chưa có rủi ro nào được định lượng cho chính xác. Một vài ví dụ có thể kể bao gồm tổn thất cá trắng là nguồn thức ăn của con người, để nuôi thủy sản, dinh dưỡng cho hệ sinh thái, thức ăn của cá đen; tổn thất cá đen ăn cá trắng để tồn tại; tổn thất đa dạng sinh học vì chim, cò, rùa, rắn cần ăn cá; tổn thất về năng suất nông nghiệp vì thiếu nguồn phân bón tự nhiên từ phù sa; tổn thất thủy sản biển vì thiếu dinh dưỡng sông Mêkông đưa ra hàng năm; sự sụt lún của đồng bằng vì thiếu phù sa; gia tăng sạt lở bờ sông; và tổn thất dây chuyền lên công nghiệp và dịch vụ như chế biến, vận chuyển, buôn bán nông sản và thủy sản...

Báo cáo này đã kiến nghị hoãn quyết định xây dựng các đập trên dòng chính trong vòng 10 năm?

Đúng vậy, và xin lưu ý đây là kiến nghị hoãn quyết định, chứ không phải hoãn việc xây, có nghĩa là sau 10 năm thì sẽ xem xét lại quyết định có xây hay không xây. Đối với lưu vực Mêkông, những cân nhắc quan trọng cần phải tính đến là:

Thứ nhất, dòng sông Mêkông chảy tự do kết nối bốn quốc gia ở vùng hạ lưu có vai trò rất quan trọng về mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, và sinh thái. Thứ hai, thậm chí khi chưa có các đập này thì hệ tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên trong khu vực đã và đang chịu áp lực ngày càng gia tăng. Thứ ba, các tác động tiềm năng của các đập này rất nghiêm trọng và vươn xa về mặt địa lý, ngoài ra còn nhiều điều chưa chắc chắn về các dự án dòng chính này. Thứ tư, cần có một phương pháp tiếp cận mới đối với phát triển sông Mêkông phù hợp hơn đối với nhu cầu của các quốc gia và các cộng đồng trong lưu vực trong thế kỷ 21.

Trong đó nhóm chuyên gia đã nhấn mạnh rằng “Dòng chính Mêkông không bao giờ nên được dùng làm thí nghiệm dù là để chứng minh hay bác bỏ các công nghệ thủy điện đắp đặp chắn ngang sông”.

Nhưng các đập này được xây dựng trong lãnh thổ của các nước khác, Việt Nam có thể làm gì để gây ảnh hưởng đến quyết định có đắp đập hay không?

Thật ra “quả bóng” đang nằm trong chân hai nước là Thái Lan và Việt Nam vì 12 đập này được thiết kế để bán 90% sản lượng điện sang Thái Lan và Việt Nam, chỉ 10% là để cho sử dụng nội địa ở Lào và Campuchia. Nếu Thái Lan và Việt Nam không mua điện từ các đập này thì các đập này khó có thể khả thi vì làm ra điện thì bán cho ai.

Báo cáo này cũng nói rõ rằng Lào và Campuchia sẽ không có khả năng xây dựng các đập này nếu không có các nhà đầu tư tư nhân. Các nhà đầu tư tư nhân thì đầu tư vì lợi nhuận, nếu không có thị trường bán điện thì họ chắc chắn không đầu tư.

Nhưng Việt Nam đang thiếu điện trầm trọng, thì vẫn cần mua điện từ các đập này?

Báo cáo đã nêu rõ, nếu Thái Lan và Việt Nam mua được 90% điện từ 12 đập này thì tính đến năm 2025 lượng điện đó cũng chỉ đáp ứng được 4,4% nhu cầu của Việt Nam. Nếu cân nhắc những thiệt hại to lớn đối với vựa lúa lớn nhất của mình, thì Việt Nam không nên xem nguồn điện từ các đập này là quan trọng trong chiến lược an ninh năng lượng.

Trong trường hợp các đập này vẫn được xây, thì có thể có những biện pháp thích nghi nào đối với ĐBSCL?

Nếu các đập này vẫn được xây dựng, có thể nói rằng đây là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với ĐBSCL. Mọi mặt của đời sống ĐBSCL, một vùng sông nước trù phú do chính dòng sông mẹ Mêkông tạo ra và nuôi dưỡng hàng ngàn năm nay sẽ bị thay đổi, cả về môi trường, kinh tế, xã hội và văn hóa.Tốt nhất là các đập này không nên được xây. Còn nếu các đập này vẫn được xây thì biện pháp thích nghi nào cũng khó, hoặc là không khả thi, hoặc là quá đắt cho ĐBSCL, vì ba lý do:

Thứ nhất là danh sách các rủi ro tổn thất rất dài và chưa có rủi ro nào được hiểu tường tận và định lượng được cả.

Thứ hai là không phải tổn thất nào cũng có thể khắc phục được. Giảm phù sa thì có thể tăng lượng phân bón để duy trì năng suất, nhưng cũng chỉ đến một lúc nào đó mà thôi. Trong mấy thập kỷ vừa qua, theo Tiến sĩ Lê Phát Quới (Viện Tài nguyên và Môi trường TPHCM), vùng trù phú nhất của ĐBSCL là vùng đất xám gần sông Mêkông cũng đã có dấu hiệu biến thành đất xám bạc màu do sử dụng thâm canh vượt mức phù sa bồi đắp. Bây giờ lại thiếu phù sa thì đất sẽ bạc màu nhanh hơn.

Số liệu của Thạc sĩ Dương Văn Nhã ở Đại học An Giang so sánh năng suất lúa trong đê bao (ít phù sa) và ngoài đê bao (nhiều phù sa) ở An Giang cho thấy, ngoài đê năng suất lúa ổn định ở mức 5,86-6,74 tấn/héc ta trong khi trong đê bao do thiếu phù sa thì chỉ đạt 5,28 tấn/héc ta mặc dù phân bón sử dụng nhiều hơn đến 131-134 ki lô gam/héc ta. Vậy phân bón không thể thay thế phù sa được. Mà tăng sử dụng phân bón còn gây ra muôn vàn hệ lụy môi trường khác như gây ô nhiễm nước.

Thủy sản nuôi cũng không thể dùng làm biện pháp thay thế thủy sản tự nhiên được bởi vì thủy sản nuôi phụ thuộc vào thủy sản tự nhiên, bột cám, bột cá biển để làm thức ăn và tất cả những thứ này đều phụ thuộc vào phù sa sông Mêkông. Khi thiếu phù sa thì sản lượng thủy sản biển vùng ĐBSCL cũng sẽ suy giảm.

Thứ ba, ngoài tác động của các đập thủy điện thì ĐBSCL lại là một trong năm nơi được xác định là sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Đối phó với riêng biến đổi khí hậu thôi đã là vất vả và tốn kém lắm rồi.

Vậy có thể tính tới chuyện chia sẻ lợi ích hay đền bù thiệt hại không?

Sự thành công của một cơ chế chia sẻ lợi ích hay đền bù thiệt hại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, bao gồm việc tính toán đầy đủ thiệt hại và các bên liên quan. Và trong việc tổ chức thực hiện đền bù hay chia sẻ lợi ích thì phải có năng lực quản lý, hành chính, kỹ thuật, thể chế ở tất cả các cấp từ địa phương đến quốc gia và khu vực để đảm bảo được sự minh bạch, công bằng và hiệu quả.

Thiệt hại do các đập Mêkông gây ra là trên một vùng rộng lớn, xuyên biên giới, ảnh hưởng hàng chục triệu người và thiệt hại đối với mỗi người hay mỗi ngành là khác nhau. Một nông dân bị giảm năng suất lúa hay tăng chi phí sản xuất do giảm phù sa sẽ bị thiệt hại khác với, ví dụ, một cơ sở chế tạo nước mắm khi nguồn cá biển bị giảm sút do thiếu phù sa sông Mêkông gây ra. Vậy làm sao tính toán cho công bằng và đảm bảo đền bù đến từng người bị thiệt hại? Trong số 12 đập này thì mỗi đập gây thiệt hại là bao nhiêu và nhà đầu tư nào phải chi trả đền bù bao nhiêu?

Ngoài ra muốn tính toán đuợc thiệt hại thì phải đo số liệu nền (baseline) ngay từ bây giờ trước khi các đập được xây dựng. Ví dụ, cần phải biết năng suất lúa hiện nay là bao nhiêu, thu nhập nông dân hiện nay bao nhiêu, tiêu thụ cá bình quân đầu người là bao nhiêu... Sau đó phải có hệ thống quan trắc, theo dõi tác động trong quá trình xây các đập và vận hành các đập, và còn phải loại trừ tất cả các yếu tố ảnh hưởng khác như thời tiết, kinh tế thế giới... thì mới tính ra được những con số thiệt hại.

Với tất cả những vấn đề này thì xem ra việc đền bù thiệt hại là khó có thể thực hiện được và việc đền bù hay chia sẻ lợi ích xuyên biên giới lại càng khó hơn.

Nguồn: Kinh tế Sài Gòn Online, thứ năm ngày 3/3/2011