Nên làm gì với những người đánh bắt, buôn bán và vận chuyển trái phép rùa biển?

31 July 2012 | Article

Tôi đã rất háo hức khi được mời tham gia một hội thảo tập huấn về bảo tồn rùa biển tại Quảng Ngãi và Bình Định. Chúng tôi đã rời thủ đô Hà Nội ồn ào náo nhiệt để đến các tỉnh miền Trung Việt Nam và tổ chức tập huấn cho các tình nguyện viên, các cán bộ nhà nước và bộ đội biên phòng về bảo tồn rùa biển. Và từ đó, tôi đã được biết rất nhiều điều về thực trạng của rùa biển ở Việt Nam.

Trong lịch sử, rùa là một loài vật linh thiêng với người Việt Nam. Bạn có thể thấy trong các ngôi chùa hình ảnh rùa đội chim hạc trên lưng tượng trưng cho những khía cạnh bất biến cũng như có thể thay đổi của cuộc sống. Có lẽ những con rùa nổi tiếng nhất ở Việt Nam là 82 bia rùa đá ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám, trường Đại học đầu tiên của Việt Nam, được xây dựng vào năm 1070. Vì loài rùa có thể sống đến 100 năm và đã xuất hiện từ thời kỳ khủng long nên rất dễ hiểu vì sao rùa lại có mối liên hệ đặc biệt với sự trường thọ, tri thức và các giá trị tâm linh. Tuy nhiên, cũng chính niềm tin của con người về giá trị của loài động vật này đã dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng loài này trên thế giới và ở Việt Nam.

Rùa biển giúp cân bằng hệ sinh thái dưới đại dương. Loài rùa xanh (Chelonia mydas) ăn các ngọn cỏ biển, giúp cỏ biển phát triển nhanh hơn. Những mầm cỏ mới sau đó trở thành sinh cảnh quan trọng cho các loài giáp xác con và cá cũng như là vườn ươm cho các loài cá có giá trị kinh tế cao. Rùa da (Dermochelys coriacea) ăn sứa và nếu rùa da biến mất, số lượng sứa trong hệ sinh thái sẽ bùng nổ, xâm hại các bờ biển, đốt con người và thậm chí gây nguy cơ tử vong ở người. Thức ăn chủ yếu của sứa là ấu trùng cá vì thế nếu số lượng rùa biển suy giảm đồng nghĩa với việc tỷ lệ cá chết sẽ nhiều hơn trong giai đoạn nhạy cảm nhất của vòng đời của cá. Đồi mồi (Eretmochelys imbricate) ăn chủ yếu bọt biển, nhờ vậy, chúng giúp duy trì sức khỏe và tính đa dạng sinh học của các rạn san hô vì nếu không có đồi mồi, bọt biển sẽ phát triển quá mức, bao phủ san hô và làm san hô chết ngạt. Rùa biển vì thế là một loài động vật chỉ thị quan trọng cho sức khỏe của hệ sinh thái biển. Bản thân rùa biển luôn phải đối mặt với những thách thức to lớn trong suốt quãng đời phát triển dài và phức tạp của chúng. Trong 1000 trứng được sinh ra thì ước tính chỉ có một trứng có thể nở và sống sót đến thời kỳ trưởng thành. Hơn nữa rùa biển chỉ có khả năng sinh sản trong giai đoạn từ tuổi 15 đến 50.

Qua những cuộc khảo sát rùa biển đầu tiên đươc tiến hành ở Việt Nam vào những năm 1941, ở Việt Nam có 5 trong số 7 loài rùa biển và số lượng tương đối đông. Tuy nhiên, hiện nay, chỉ còn rất ít cá thể, chủ yếu là Rùa Xanh ở Côn Đảo, nơi tập trung hơn 95% ổ trứng rùa ở Việt Nam (trung bình 300 ổ/ 1 năm). Côn Đảo, cách đất liền 100km, là một trong số rất ít khu vực duyên hải của Việt Nam không bị ảnh hưởng nặng nề bởi các hồ nuôi tôm và sự phát triển cơ sở hạ tầng.

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm nghiêm trong số lượng rùa biển là do môi trường sống của chúng bị phá hủy, bị làm ô nhiễm và do các hoạt động đánh bắt không chủ ý. WWF và IUCN đã có những thành công nhất định trong việc giới thiệu thiết bị thoát rùa (TED) cho các tàu đánh bắt cá và tập huấn cho ngư dân cách thả rùa bị mắc lưới trở về đại dương. Theo số liệu của Trung tâm Giáo dục thiên nhiên Việt Nam (ENV), trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2011, các cơ quan chức năng đã phát hiện được 931 con rùa sống. Chủ yếu là Đồi mồi (873 con), sau đó đến Rùa xanh (52 con). 849 con đồi mồi trong số đó thuộc sở hữu của một người đàn ông đã thu gom rùa biển từ những ngư dân địa phương trong 11 tháng, 5 – 10 con/ một lần thu gom.

Đánh bắt rùa biển là mối đe dọa lớn nhất với rùa biển ở khu vực Đông Nam Á. Không chỉ đánh bắt tại vùng biển của nước mình, những đối tượng đánh bắt rùa biển đến từ Việt Nam và Trung Quốc còn hoạt động ở vùng biển quốc tế và xâm nhập vào vùng biển của Malaysia, Indonesia và Philipin. Các thuyền đánh bắt cỡ lớn của Việt Nam chủ yếu đến từ tỉnh Quảng Ngãi, một tỉnh ven biển miền Trung Việt Nam.

Năm 2007, các cơ quan chức năng của Indonesia đã phát hiện hơn 400 con rùa chết trong một thuyền đánh cá của Trung Quốc. Trong vòng 10 năm qua, đã có hơn 1000 đối tượng đánh bắt bị bắt và xử phạt tại bờ biển Palawan của Philipin. Mặc dù phạt tù không phải là hình phạt phổ biến trong quá khứ nhưng mọi việc đang có xu hướng thay đổi. Năm 2010, 13 người Việt Nam đã bị phạt 18 tháng tù giam tại Philippin sau khi bị phát hiện đánh bắt 101 con đồi mồi.

Mặc dù những người đánh bắt và buôn bán rùa biển nhận thức được hành động của mình là phạm pháp nhưng họ vẫn tiếp tục làm do lợi nhuận lớn từ việc buôn bán rùa biển. Một con đồi mồi có thể bán với giá hơn US$3,000 và nguy cơ bị phát hiện rất thấp. Lợi nhuận cao và rủi ro thấp chính là một động lực mạnh mẽ để họ tiếp tục các hoạt động đánh bắt và buôn bán rùa biển.

Từ năm 2002, bảo vệ rùa biển đã chính thức được đưa vào luật của Việt Nam nhưng việc thực thi luật này vẫn còn rất yếu. Ví dụ, tháng 7 năm 2011, đã phát hiện 102 con rùa chết tại tỉnh Bình Định. Chính quyền địa phương từ chối không cung cấp thông tin về vụ bắt giữ này cho các nhà hoạt động môi trường và chỉ xem xét đến khả năng tổ chức đấu giá rùa biển chứ không phải phá hủy như theo luật quy định. ENV đã thuyết phục chính quyền địa phương hủy cuộc đấu giá này.

Nói chung, nếu phát hiện rùa biển thì phải nộp cho cơ quan nhà nước, nếu rùa vẫn còn sống thì phải thả về đại dương. Tuy nhiên, chính quyền địa phương vẫn còn khá rụt rè khi xử lý tội phạm buôn bán động vật hoang dã, mới chỉ dừng lại ở cảnh cáo. Chưa có bất kỳ một vụ khởi tố hình sự nào cho hành vi mua bán rùa biển và hình phạt thường không có sức răn đe, ví dụ: phạt 250 US$ vì bắt ba con rùa ở Vịnh Hạ Long vào tháng 7 năm 2006 nhưng chỉ phạt 500 US$ cho vụ thu mua và giam giữ 849 con rùa ở Nha Trang vào tháng 9 năm 2009.

Trong một vài trường hợp, sự nghèo đói đã đẩy con người đến các hoạt động săn bắt trái phép và rất khó để thuyết phục những ngư dân nghèo này chấm dứt hoạt động của họ. Tôi vẫn còn nhớ trong một cuộc phỏng vấn do Bà Bùi Thu Hiền – Điều phối viên chương trình biển và vùng bờ IUCN thực hiện với một ngư dân ở Quảng Ngãi, anh ta đã nói rằng anh sẽ tiếp tục săn bắt rùa biển miễn là có lợi nhuận vì dù có phải vào tù ở Philipin cũng không tệ hơn việc không có tiền cho gia đình. Trong trường hợp này, thực thi luật pháp tốt hơn là chưa đủ. Cần phải có những biện pháp tạo sinh kế thay thế.

Nhu cầu về các sản phẩm từ rùa là rất lớn vì tác dụng làm thuốc, tăng ham muốn tình dục, đồ trang trí thẩm mỹ. Thịt và trứng rùa được coi là một món ăn cao lương mỹ vị, rùa nhồi được đặt ở dưới móng nhà để mang lại may mắn, đeo các sản phẩm làm từ rùa giúp chữa bệnh huyết áp thấp, có giá trị thẩm mỹ và đồ trang trí “bekko” (làm từ mai Đồi mồi) được bán rộng rãi ở miền Nam Việt Nam theo như báo cáo của TRAFFIC – một mạng lưới kiểm soát buôn bán động vật hoang dã quốc tế. Năm 2009, gần 6,000 sản phẩm được phát hiện đang bán tại 84 cửa hàng tại tám địa phương. Mặc dù số lượng sản phẩm này đã giảm 74% so với khảo sát của năm 2002 (năm bắt đầu cấm buôn bán rùa biển ở Việt Nam), việc này phản ánh một thực tế là số lượng rùa biển của Việt Nam đang ngày cảng ít đi chứ không phải nhu cầu về các sản phẩm từ rùa biển giảm đi.

Ở Việt Nam, đối tượng tiêu thụ bekko phổ biến nhất là người Trung Quốc và Đài Loan, sau đó là người dân địa phương. Một số người mua không ý thức được là đây là loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng và hành động tiêu thụ của họ là bất hợp pháp tuy nhiên, đây chỉ là số ít, phần đông đều có hiểu biết nhưng họ thực sự không quan tâm đến vấn đề đó. Trên thực tế, họ có thể mua những sản phẩm này vì sự quý hiếm có của nó. Trong hoàn cảnh này, các chiến dịch nâng cao nhận thức và các biện pháp xử phạt là không đủ, mà phải phạt tù để làm gương nhằm đưa ra một thông điệp rõ ràng và dứt khoát rằng buôn bán các động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng là không thể chấp nhận được ở Việt Nam.

Deborah Simon - Cán bộ Dự án - IUCN Việt Nam


Loggerhead turtle