Thời điểm “ngoại giao nguồn nước” sau Xayaburi

05 February 2013 | News story
0 CommentsWrite a comment

Lễ khởi công xây dựng đập thủy điện Xayaburi ngày 7 tháng 11 tại Lào đã đánh dấu cái kết cho một chiến dịch quốc tế bền bỉ và đầy tranh cãi nhằm đình hoãn việc xây dựng con đập này cho đến khi những nghiên cứu sâu hơn về tác động xuyên biên giới tiềm tàng được hoàn thiện.

Theo báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (SEA) năm 2010 của Ủy hội sông Mê Kông (MRC), có thể sẽ phải tốn ít nhất 10 năm để hoàn thiện các nghiên cứu này. Tuy nhiên, mối đe dọa thực sự mà Xayaburi đem lại là gì? Chúng ta có thể rút ra điều gì từ cuộc tranh luận về con đập này? Và tiếp theo đây chúng ta nên làm gì?

Những phản đối xây dựng đập Xayaburi ngay hạ nguồn Lái Lan chủ yếu tập trung vào các tác động địa phương. Tuy nhiên, dự án cũng để ngỏ những câu hỏi lớn hơn nhiều cho cả khu vực.

Vấn đề không quá nghiêm trọng khi tính tới những tác động trực tiếp của đập Xayaburi (do con đập quá xa thượng nguồn để có thể tác động đáng kể đến dòng di cư của cá và do đó, cũng không ảnh hưởng tới sản lượng cá tại những khu vực năng suất cao nhất trên dòng sông), nhưng nó sẽ thiết lập một tiền lệ để xây dựng toàn bộ 11 đập dòng chính kéo xuống tới Sambor ở miền trung Campuchia.

Nếu tất cả những con đập này được xây dựng, các tác động về an ninh lương thực, đặc biệt là ở hồ Tonle Sap của Campuchia có thể cực kì nghiêm trọng. Sở dĩ như vậy là do hồ Tonle Sap phụ thuộc vào nhịp lũ theo mùa mang theo nước và phù sa giàu chất dinh dưỡng, đem lại nguồn cá dồi dào. Ngoài ra, nếu nguồn phù sa quan trọng bị chặn đường đến với Đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của Việt Nam có nguy cơ chìm xuống đại dương.

Do đó, toàn bộ 11 bậc thang thủy điện sẽ là một mối đe dọa hiện hữu với triển vọng phát triển và ổn định chính trị của khu vực sông Mê Kông. Dù tiến bộ kinh tế xã hội là cần thiết nhưng cũng không nên bất chấp những rủi ro không đáng có đe dọa hệ sinh thái và những dịch vụ môi trường chi phối đời sống xã hội.

Trong bối cảnh đó, cuộc tranh luận xoay quanh đập Xayaburi chỉ là một bước đi trong một nỗ lực dài hạn để đảm bảo rằng sông Mê Kông được phát triển theo cách có thể tối ưu hóa lợi ích chung cho tất cả người dân ven sông mà không phương hại tới hòa bình và an ninh khu vực.

Làm thế nào để đạt được điều này? Thứ nhất, nếu nói rằng tất cả đập đều tác động tiêu cực là không đúng. Câu hỏi quan trọng là con đập cụ thể nào và tác động có thể xẩy ra là gì. Các tác động tích lũy và xuyên biên giới của bậc thang 11 đập cần được đánh giá theo những thay đổi nguồn lợi từ giảm sản lượng cá và dòng phù sa.

Đây là bài toán khó. Tuy nhiên, những tiến bộ về dữ liệu thu thập được cùng với các phương pháp mô hình hóa sẽ mang lại các dự đoán chính xác hơn nhiều. Đó chính là những gì cần phải làm trong khu vực sông Mê Kông. Đồng thời, điều này giúp xác định rõ con đập nào gây rủi ro nhiều nhất.

Thứ hai, điều quan trọng là phải thừa nhận rằng việc yêu cầu Lào không xây dựng đập thủy điện trên sông Mê Kông là yêu cầu quá nhiều. Một đánh giá kinh tế về bậc thang 11 đập của Đại học Portland State và Đại học Mae Fah Luang cho thấy, bất kể những giá trị mất đi từ các dịch vụ hàng hóa môi trường do xây đập, những ảnh hưởng đến Lào sẽ ít hơn so với các nước láng giềng ở hạ lưu. Với những tác động tiêu cực không nhiều, dễ dàng thấy rằng phát triển thủy điện rất có ý nghĩa đối với Lào.

Câu hỏi tiếp theo là, liệu các nước láng giềng ở hạ lưu có nên triển khai một kế hoạch bồi thường để bù lại phần thu nhập mà Lào sẽ hy sinh nếu hủy xây dựng các đập thủy điện theo kế hoạch? Thu nhập bị mất có thể không lớn như dự kiến. Chẳng hạn, với Xayaburi là một dự án xây dựng - chuyển giao, mang lại doanh thu một vài chục triệu USD/năm cho chính phủ trong 30 năm đầu tiên thì khoản tiền ấy là rất nhỏ so với đầu tư hiện tại của Việt Nam ở Lào và cực nhỏ so với giá trị thương mại khu vực.

Hơn nữa, trong bối cảnh sự thịnh vượng và ổn định khu vực đang được cộng đồng quốc tế quan tâm như hiện nay, Việt Nam có thể được các đối tác phát triển đồng tài trợ để khuyến khích một sáng kiến như thế.

Nếu Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam thống nhất, trước tiên là, không xây dựng các đập nhiều rủi ro, và thứ hai, tìm một cơ chế bồi thường để bù đắp phần doanh thu mất đi nếu không xây đập, thì rất có thể một thỏa thuận sẽ được chính thức hóa. Các nước có thể thông qua Hiệp định Mê Kông năm 1995 sửa đổi, Công ước Liên Hợp quốc về Luật sử dụng không điều hướng nguồn nước quốc tế năm 1997, hoặc một số cơ chế pháp lý khác. Một thỏa thuận bao gồm điều khoản bắt buộc các bên phải tham vấn các quyết định tại một cơ quan trọng tài độc lập trong trường hợp bất đồng không thể tự giải hòa.

Chẳng hạn, Hiệp ước nguồn nước Indus năm 1960 giữa Ấn Độ và Pakistan có một điều khoản đề cập tới việc tham khảo Tòa án Công lý Quốc tế nếu xảy ra bất đồng. Vì vậy mặc dù đã có ba cuộc chiến tranh giữa Ấn Độ và Pakistan kể từ năm 1960 nhưng hiệp ước này vẫn đứng vững. Hơn nữa, nếu không sử dụng tới cơ chế tham vấn, thì Hiệp ước này vẫn mang lại cho cả hai bên niềm tin rằng nếu lợi ích thiết yếu của họ bị đe dọa, sẽ có ngay một quy trình để giải quyết tranh chấp.

Việt Nam đang có lợi thế để dẫn dắt một quá trình như vậy, và các đối tác phát triển bao gồm Phần Lan, Úc, Thụy Điển, Mỹ thậm chí có thể sẵn sàng cung cấp những hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho quá trình “ngoại giao nguồn nước” có liên quan đến tất cả các nước thuộc hạ Mê Kông và có thể đưa đến một thỏa thuận ràng buộc pháp lý sau đó.

Một thỏa thuận như vậy cần phải:

  • Thừa nhận quyền của tất cả các bên tham gia khai thác sông Mê Kông với mục đích phát triển mà không gây ra các ảnh hưởng xuyên biên giới quy mô lớn không thể khắc phục.
  • Cung cấp cơ sở pháp lý và cơ chế thể chế cho việc tiến hành các đánh giá tác động tích lũy và xuyên biên giới bằng cách sử dụng các tiêu chuẩn cao và thống nhất cho tất cả các đập trên dòng chính.
  • Cung cấp một cơ sở pháp lý và cơ chế thể chế cho các khoản thanh toán bồi thường bù đắp doanh thu phải hy sinh do không xây dựng một số đập trên dòng chính.
  • Cung cấp một cơ sở pháp lý cho việc đánh giá và chi trả cho các yêu cầu bồi thường phát sinh từ các ảnh hưởng xuyên biên giới của các đập được xây dựng.
  • Cung cấp một cơ chế tham vấn độc lập trong trường hợp xảy ra những bất đồng không thể hòa giải giữa các bên.

Mặc dù không có thông cáo chính thức về lý do tại sao Việt Nam rút lại phản đối đập Xayaburi trong cuộc họp gần đây nhất của MRC tại Luongphabang từ 15-17 tháng 1, đoàn Việt Nam cũng cho rằng không nên xây dựng thêm trên dòng chính cho đến khi có được kết quả nghiên cứu kéo dài bốn năm. Cách tiếp cận ngoại giao nguồn nước gồm năm điểm được mô tả trên đây sẽ hỗ trợ nỗ lực này trong khi cũng cung cấp thêm đảm bảo nếu kết quả nghiên cứu gây tranh cãi.

Khu vực này sẽ được hưởng lợi bằng cách chấp nhận cách tiếp cận “toàn bộ Mê Kông”. Vài ngày sau lễ khởi công Xayaburi, chính phủ Campuchia đã thông báo rằng một hợp đồng xây dựng đập Sesan Lower 2 (LS2) đã được ký kết. Nghiên cứu cho thấy, từ quan điểm xã hội và môi trường, LS2 thậm chí còn đáng lo ngại hơn nhiều so với Xayaburi bởi vì nó sẽ chặn dòng Sesan và Srepok - hai nhánh lớn nhất của sông Mê Kông và có thể dẫn đến giảm phù sa và sản lượng cá. Một nghiên cứu của Ziv và cộng sự về 27 đập đang có kế hoạch xây dựng từ năm 2015 đến 2030 trên các sông nhánh của Mê Kông xếp LS2 là dự án gây tổn hại lớn nhất với lợi ích ít nhất, bởi vì sản lượng điện năng nó tạo ra tương đối ít (400 MW) trong khi làm giảm sản lượng cá tới 9,3%. Con số nghe có vẻ không nhiều, nhưng xét tới 15 triệu người dân Campuchia sống xung quanh phụ thuộc vào cá từ hồ Tonle Sap thì đó lại là một con số đáng lưu tâm. Bởi vì, thậm chí chỉ cần giảm một lượng rất khiêm tốn cũng có thể đe dọa tới an ninh lương thực của hàng triệu con người.

Cần lưu ý rằng các tổ chức xã hội dân sự đang dần trở nên có ảnh hưởng trong khu vực. Khi các tổ chức này mở rộng và tăng cường mạng lưới quốc gia và quốc tế, ảnh hưởng của họ tới việc ra quyết định xây dựng thủy điện sẽ tăng lên. Điều này đặc biệt đúng ở Thái Lan và Việt Nam, hai nước sử dụng điện lớn nhất trong các nước hạ Mê Kông. Ít nhất là trong tương lai gần, các quyết định của Thái Lan và Việt Nam sẽ định đoạt con đập nào được và không được xây dựng. Xã hội dân sự, đặc biệt là ở hai nước này, sẽ giữ một vai trò nhất định trong cuộc tranh luận đang diễn ra.

Thực tế là các cuộc tranh luận về tương lai của sông Mê Kông chỉ mới bắt đầu. Trong 20 năm tới, nếu có một thỏa thuận khu vực ràng buộc pháp lý xác định được đập nào bị đánh giá là “rủi ro cao” dựa trên cơ sở khoa học và ngăn chặn được việc xây dựng chúng thì sẽ là một kết quả thành công. Thỏa thuận trên sẽ mang lại lợi ích cho tất cả các nước trong khu vực thông qua đảm bảo an ninh môi trường và tăng cường các mối quan hệ chính trị.
 

-----
Jake Brunner, Điều phối viên Chương trình (Việt Nam, Campuchia và Myanmar) và Ts. Robert Mather, Giám đốc phụ trách Khu vực Đông Nam Á IUCN

Xuất bản lần đầu trên báo Bangkok Post newspaper ngày 5 tháng 2 năm 2013 
Xem bài viết trên 
Bangkok Post online

 


Comments

0 Comments
Write a comment

600 CHARACTERS LEFT

captcha